Hướng dẫn kỹ thuật Nông nghiệp

Hướng dẫn kỹ thuật trồng cây ăn quả (trái) đúng cách

Hướng dẫn kỹ thuật trồng cây ăn quả (trái) đúng cách

Cây ăn quả hay những loại cây khác luôn mang đến những lợi ích nhất định cho người trồng. Cả về mặt giá trị kinh tế lẫn sức khỏe. Nhưng trồng cây bằng cách nào để cây sinh trưởng và phát triển bền vững? Cùng Nam Việt tìm hiểu kỹ thuật trồng cây ăn quả (trái) đạt tiêu chuẩn:

1. Các bước chuẩn bị trồng cây ăn quả

1.1. Chuẩn bị đất trồng cây ăn quả

Để thực hiện cách trồng cây ăn quả (trái) thì không thể bỏ qua bước chuẩn bị đất trồng. Nên đất trồng cần được cày xới kỹ, đồng thời xử lý hết những nấm bệnh tuyến trùng. Đối với đất canh tác lại hoặc chuyển đổi sang giống cây trồng mới. 

Thì bà con cần phải phơi đất và trải qua từ 2 cho đến 3 vụ trồng hoa màu trước khi trồng lại các loại cây lâu năm khác nữa. Để cung cấp thêm dinh dưỡng cho đất, có thể bón thêm phân hữu cơ, phân chuồng, các loại nấm đối kháng cũng như phân xanh. Bên cạnh đó, kết hợp với việc cày xới để tăng độ mùn và các vi sinh vật có ích cho đất. 

Cần xác định loại cây mà bạn muốn trồng, đồng thời đo độ pH cũng như điều chỉnh lại để đảm bảo đất không quá chua cũng không quá kiềm. Điều đó sẽ ảnh hưởng xấu đến cây trồng

 

1.2. Đào hố trồng cây 

Với những loại cây ăn trái như sầu riêng, mít,… thì kỹ thuật trồng cây ăn quả (trái) cần phải trải qua bước đào hố trước khi trồng. Nhưng dựa trên mặt bằng chung thì hầu hết các loại quả sẽ phù hợp với kích thước 40 x 60 vuông. Cụ thể là 40 x 40 x 40cm, 60 x 60 x 60cm. 

Những việc đào hố, xử lý hố như vậy cần chuẩn bị trước một tháng trước khi xuống giống, đối với các hộ dân trồng với diện tích lớn. Để đỡ mất nhiều công sức có thể dùng cuốc, máy khoan, máy múc, xẻng,… chỉ cần đảm bảo đúng được kích thước quy định.  

Trong quá trình đào hố, nên để đất mặt và phần đất phía dưới sao cho riêng ra 2 phần. Lớp đất mặt có thể dùng để trộn với phân bón lót. Tiếp đến, là lấp lại hố và lớp đất ở dưới đắp thành bờ xung quanh để tạo thành dạng bồn. Mỗi bồn sẽ có đường kính từ 1m đến 1m2 là ổn. 

 

1.3. Xử lý hố trước khi trồng cây 

Bón lót là bước không thể bỏ qua trong kỹ thuật trồng cây ăn quả (trái), để đảm bảo cây trồng được cung cấp một cách đầy đủ các chất dinh dưỡng cần bón lót cho mỗi hố từ 5 – 10 kg phân chuồng đã qua ủ hoai mục. 

Kèm theo 50g nấm đối kháng và 50g thuốc chống mối dạng bột, 500g phân supe lân. Sau đó trộn đều với lớp đất mặt để riêng. Rồi lấp hố lại, tưới nước thật nhiều lên trên để phân có thể tan, các loại vi sinh vật hữu ích có điều kiện phát triển. Sau đó, tối thiểu 15 ngày đến 1 tháng thì tiến hành bỏ cây xuống trồng. 

2. Cách trồng cây ăn quả (trái) đúng kỹ thuật 

Để thực hiện cách trồng cây ăn quả (trái), đào lỗ có kích thước vừa với cây con mà bà con đặt xuống để trồng. Đối với bầu ươm, lấy dao rạch túi nilon hoặc nhựa cẩn thận tránh làm bể bầu, ảnh hưởng đến rễ. 

Đối với giá thể đất, bầu ươm, chậu nhựa, cây ít ra rễ thì nên cắt phần đáy trước. Sau đó đặt vào hố, tiếp đến là cắt dọc bầu để rút toàn bộ phần túi nilon ra ngoài. 

Quá trình đặt bầu đất vào hố nên để cho phần mặt bầu cao hơn mặt đất xung quanh. Nếu trồng cây để ngang bằng mặt đất thì phải vun gốc lên cao, khi trời có mưa thì phần gốc sẽ không bị đọng lại nước. 

Đối với các cây giống ghép, cần chú ý là phần mắt ghép không được vùi trong đất. Càng cao, thoáng thì càng tốt, hạn chế thấp nhất nấm bệnh xâm nhập từ đất thông qua phần mắt ghép. Đồng thời khi mắt ghép bị vùi trong đất, khả năng phát triển của cây cũng rất thấp. 

Dưới đây là toàn bộ kỹ thuật trồng cây ăn quả (trái) được VNFarm tổng hợp từ bà con có nhiều năm kinh nghiệm trồng cây ăn quả.

3. Kỹ thuật chăm sóc cây ăn quả tại nhà

3.1. Chăm sóc cây ở giai đoạn đầu

Sau cách trồng cây thì kỹ thuật chăm sóc cây ăn quả (trái) mới trồng khoảng 1 – 2 tháng rất quan trọng. Bà con cần đặc biệt chú ý: 

Có thể nói, trong khoảng 1 tháng đầu khi trồng cây là thời điểm vô cùng nhạy cảm. Bà con cần chú ý cung cấp nước đủ cho cây, để đất không được quá khô và quá nắng. Các biện pháp mà bà con có thể thực hiện như sau: 

  • Cắm cọc cây cạnh bên để cố định lại cây trồng. Khi gặp điều kiện thời tiết không thuận lợi cũng sẽ không bị ngã đổ, gãy mắt ghép, động đến rễ.
  • Sử dụng lưới, lá dừa hoặc lá chuối để cho nắng cho cây lúc trời nắng quá gắt. Để cây dần thích nghi với ánh nắng trực tiếp từ môi trường bên ngoài. 
  • Tưới nước đảm bảo độ ẩm nhất định ngay khi trồng cây từ 2 đến 3 ngày sau khi trồng. Nếu thấy đất quá khô thì tưới tiếp, có thể phủ lên trên gốc rơm rạ, cỏ khô để giữ ẩm cho cây. 

3.2. Chăm sóc cây ăn quả ở năm đầu tiên cây phát triển

Bón thúc cho cây: Chỉ sau từ 1 đến 2 tháng thực hiện kỹ thuật trồng cây ăn quả (trái) thì cây sẽ bắt đầu bén rễ. Sau đó xuất hiện chồi và các lá non. Lúc này, để kích thích cây phát triển vượt trội nên tiến hành bón thúc bằng phân đạm, phân NPK có tỷ lệ N – P cao. Các loại phân NPK như 20-20-15, 30-10-10, 16-16-8,… Sau đó pha loãng để tưới vào gần gốc cây. 

Mỗi năm như vậy thì bón khoảng 0.5kg cho mỗi cây và chia ra nhiều lần khác nhau, khoảng 5 đến 10 đợt bón. 

Tưới nước cho cây: nên tưới nước duy trì độ ẩm cho các hố trồng, đảm bảo phải luôn có đủ nước cho cây, không thiếu cũng không thừa. Tùy theo khí hậu mà tưới lượng nước cho phù hợp. 

3.3. Xử lý sâu bệnh cho cây ăn quả

 

Như đã đề cập phía trên, năm đầu tiên là lúc cây bén rễ, thích nghi với môi trường và ra những cành lá non đầu tiên thì hay gặp sâu bệnh hại. Do đó, quá trình này cần được chăm sóc cẩn thận, phòng các loại bệnh cho cây trồng. Đặc biệt là thời điểm cây ra lá non, cần chú ý đến các loại côn trùng chuyên hại cây bằng cách hút chích, làm giảm sức sinh trưởng của cây nặng nề. 

Lúc này cần kết hợp với phân bón lá, thuốc trị côn trùng, thuốc trị nấm. Nhưng để đạt hiệu quả cao nhất, nên được sự tư vấn từ những người có chuyên môn và kinh nghiệm. 

Trong quá trình thực hiện kỹ thuật chăm sóc cây ăn quả thì việc xuất hiện sâu bệnh hại là điều không thể tránh khỏi. Vì vậy, hãy luôn quan sát tình hình phát triển của cây để phòng trừ sâu bệnh hại khi còn sớm.

3.4. Tỉa cành, tạo tán cho cây 

Đối với kỹ thuật chăm sóc cây ăn quả (quả), thì việc tỉa cành, tạo tán không chỉ có giá trị về mặt thẩm mỹ mà còn giúp cây phát triển khỏe mạnh hơn nữa, tránh được các loại sâu bệnh hại. 

Điển hình là những cây có tán thấp như ổi, nhãn, cam sành, quýt thì cây đạt chiều cao từ 0.7 đến 1m nên hãm ngọn lại và nuôi 3 – 5 cành thứ cấp cân đối, khỏe mạnh là tốt nhất. 

Phụ thuộc và tính chất, kích thước mà mỗi loại cây sẽ có cách trồng và chăm sóc riêng. Nhưng nhìn chung, kỹ thuật trồng cây ăn quả (trái) luôn có những điểm cơ bản giống nhau, phía trên là một số thông tin hữu ích mà bà con có thể tham khảo. Đừng quên ghé qua Nam Việt để tìm hiểu thêm một số thông tin cây trồng bổ ích!

————————————————–

Hướng dẫn kỹ thuật bón Phân cho cây cà phê

Cây cà phê là một trong những cây trồng quan trọng nhất ở Việt Nam, đóng góp lớn vào nền kinh tế quốc dân. Để đạt được năng suất cao và chất lượng tốt, việc bón phân cho cây cà phê đóng vai trò vô cùng quan trọng.

Lượng phân bón:

Lượng  phân bón cho cà phê phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:

  • Giai đoạn phát triển của cây: Cây cà phê con cần lượng phân bón ít hơn cây cà phê trưởng thành.
  • Loại đất: Đất đai màu mỡ cần ít phân bón hơn đất bạc màu.
  • Năng suất mong muốn: Bón nhiều phân bón hơn nếu muốn đạt năng suất cao hơn.

Dưới đây là lượng phân bón NPK khuyến cáo cho cà phê:

  • Cây cà phê con (1-2 năm tuổi): 200-300 kg NPK/ha/năm.
  • Cây cà phê trưởng thành (3-7 năm tuổi): 300-400 kg NPK/ha/năm.
  • Cây cà phê già (> 7 năm tuổi): 400-500 kg NPK/ha/năm.

Cách bón phân cho cà phê

Có nhiều cách bón phân cho cà phê, bao gồm:

  • Bón lót: Bón phân lót trước khi trồng cà phê hoặc vào đầu mùa mưa.
  • Bón thúc: Bón phân thúc vào các giai đoạn phát triển quan trọng của cây cà phê như sau khi ra hoa, sau khi đậu quả, và trước khi thu hoạch.
  • Bón theo hốc: Bón phân vào hốc xung quanh gốc cây.
  • Bón rải: Bón phân rải đều trên mặt đất dưới tán cây.

Lưu ý:

  • Nên bón phân vào lúc trời râm mát, không nên bón phân khi trời nắng nóng.
  • Cần bón phân theo đúng kỹ thuật để tránh gây hại cho cây cà phê.
  • Nên sử dụng các loại phân bón có nguồn gốc rõ ràng, chất lượng tốt.

Dưới đây là hướng dẫn chi tiết cách bón phân cho cà phê theo từng giai đoạn phát triển:

Cây cà phê con (1-2 năm tuổi):

Bón lót: 200-300 kg NPK/ha.

Bón thúc:

  • Lần 1: Bón sau khi trồng 1 tháng, sử dụng phân: NPK 22-6-6.
  • Lần 2: Bón sau khi cây ra hoa, sử dụng phân NPK 20-20-15.
  • Lần 3: Bón sau khi đậu quả, sử dụng phân NPK 22-20-15.

Cây cà phê trưởng thành (3-7 năm tuổi):

Bón lót: 300-400 kg NPK/ha.

Bón thúc:

  • Lần 1: Bón sau khi thu hoạch, sử dụng phân NPK 15-15-15.
  • Lần 2: Bón sau khi cây ra hoa, sử dụng phân 22-6-6.
  • Lần 3: Bón sau khi đậu quả, sử dụng phân NPK 30-20-5.

Cây cà phê già (> 7 năm tuổi):

Bón lót: 400-500 kg NPK/ha.

Bón thúc:

  • Lần 1: Bón sau khi thu hoạch, sử dụng phân NPK 15-15-15.
  • Lần 2: Bón sau khi cây ra hoa, sử dụng phân NPK 22-6-6.
  • Lần 3: Bón sau khi đậu quả, sử dụng phân NPK 19-19-19.

Ngoài ra, bà con nông dân cũng có thể sử dụng các loại phân bón hữu cơ như phân chuồng hoai mục, phân xanh để bón cho cà phê. Phân bón hữu cơ giúp cải thiện chất lượng đất và cung cấp dinh dưỡng cho cây cà phê một cách bền vững.

———————————

Quy trình kỹ thuật trồng lúa cho năng suất cao

Lúa nước đã trở thành loại cây trồng truyền thống lâu đời tại Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới như Thái Lan. Nền nông nghiệp chiếm ưu thế trên thị trường hiện nay, một phần cũng do loại cây trồng chủ lực này. Nhưng kỹ thuật trồng lúa như thế nào để cho năng suất cao? Điều này sẽ được bật mí ở bài viết dưới đây của VNFarm.

1. Đôi nét về cây lúa

1.1. Cây lúa là cây gì?

 

Cây lúa có tên khoa học là Oryza sativa, thuộc họ Hoà Thảo. Lúa là cây thân thảo ngắn ngày. Hiện tại, lúa được trồng phổ biến ở khu vực đồng bằng Việt Nam, đặc biệt là đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long.

Nguồn gốc của cây lúa vô cùng thú vị. Cụ thể như sau, từ lâu về trước thì có những hạt lúa trôi dạt theo dòng nước mà chảy vào những khu đất phù sa bên ven sống. Những cây dại này cho ra rất nhiều hạt và từ đó người ta đã đem về giã dập vỏ để ra những hạt trắng. Đem đi nấu ăn thì thấy rất chắc bụng và cung cấp đủ năng lượng cho một ngày làm việc. Giờ đây, lúa được trồng phổ biến tại các quốc gia trên thế giới. 

1.2. Đặc điểm cây lúa

 


Đặc điểm nhận biết của cây lúa

  • Có thể nói cây lúa sống chủ yếu phụ thuộc vào nước, nên đây cũng là lý do cây lúa nước ra đời. Nếu không có đủ mực nước cần thiết, cây lúa nước sẽ không thể sống được. 
  • Lúa được xếp vào cây có một lá mầm và rễ chùm.
  • Thân cây thường có chiều cao từ 60 đến 80cm, chiều rộng từ 2 – 3 cm. Lúa thân thường mọc thẳng và nói với nhau thành nhiều đốt. 
  • Nhìn từ bên ngoài, lúa có hình dạng như lưỡi mác, dài từ 20 đến 40 cm. Các gân lá song song với nhau, chiều rộng khoảng 1 đến 2cm. Phần rễ chùm của lúa rất ưa nước. 
  • Phần ngọn của lúa là nơi giúp lúa trổ bông và ra hạt. 

Ngày nay, vì sự phát triển của khoa học mà lúa được lai tạo nhiều giống khác nhau phục vụ nhu cầu của nhiều người tiêu dùng khác nhau. Hãy cùng tìm hiểu sâu hơn về cách trồng lúa ngay trong nội dung tiếp theo!

2. Thời vụ trồng lúa trong năm tại Việt Nam

 


Thời điểm thích hợp để trồng lúa

Điều kiện thời tiết các vùng miền Việt Nam khác nhau nên sẽ có thời vụ trồng lúa khác nhau. Điểm hình, tại miền Nam và Trung khí hậu tương đối thuận lợi để trồng lúa nước, nên ngoài 2 vụ chính thì vẫn có thêm vụ hè thu. Tại một số vùng miền Tây Nam Bộ có thể trồng thêm vụ thu đông đối với các giống lúa ngắn ngày. 

Nhưng ở miền Bắc, khí hậu chia làm 4 mùa rõ rệt nên thường chỉ trồng vào hai vụ chính là đông xuân và vụ mùa. 

Do đó, tùy vào thổ nhưỡng, khí hậu nơi bà con sống mà lựa chọn thời vụ trồng cũng như giống lúa thích hợp. 

3. Quy trình trồng lúa đúng kỹ thuật

Quy trình trồng lúa cần đảm bảo thực hiện theo các bước sau đây:

3.1. Xử lý hạt giống

 


Cách xử lý hạt giống để chuẩn bị trồng lúa

Để tỉ lệ hạt giống nảy mầm cao, nên xử lý qua hạt giống trước khi thực hiện kỹ thuật trồng lúa. Ngâm hạt giống trong nước ấm khoảng 15 phút, sau đó bà con vớt bỏ hết những hạt lép nổi phía trên mặt nước. Rồi đem đi rửa sạch. 

Tiếp đến là đem ngâm hạt giống với nước sạch trong khoảng từ 24 cho đến 36 tiếng đối với những giống lúa thuần. Còn giống lúa đã lai tạo thì ngâm từ 8 đến 12 giờ, sau đó vớt ra đem đi ủ. 

Chú ý, ủ trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm vừa phải, không quá cao cũng không quá thấp. Khi nảy mầm dài bằng ½ hạt thì tiếp tục đem đi gieo mạ.  

3.2. Chuẩn bị đất trồng lúa

Trong kỹ thuật trồng lúa thì quy trình xử lý đất có thể nói rất quan trọng. Bà con cần cày xới kỹ đất. Sau khi thu hoạch lúa từ vụ trước thì tiến hành thực hiện việc này càng sớm càng tốt. 

Tuy nhiên, cần dựa vào địa hình, thổ nhưỡng và cả chân đất mà lựa chọn là nên làm đất dầm hay ruộng làm ải. Vào giữa đợt thì nên cày đảo ải lại và tiến hành đổ ải từ 5 đến 7 ngày trước khi cấy. 

Mục đích của việc làm ải là hỗ trợ giải phóng các chất dinh dưỡng có trong đất. Đồng thời giảm thiểu được các độc tố gây hại, mầm bệnh còn tồn đọng trong đất gây hại cho các loại sâu bệnh. Đất trồng lúa phải được cày thật sâu, đồng thời mặt ruộng cần độ bằng phẳng để dễ cấy và điều tiết được lượng nước. 

Đất trước lúc cấy phải nhổ sạch toàn bộ gốc rạ, cỏ dại mọc trong đất để cây lúa được sinh trưởng và phát triển thuận lợi nhất mà không bị tranh giành chất dinh dưỡng. Bạn có thể sử dụng Dori để tiêu diệt lúa ma trước khi thực hiện kỹ thuật trồng lúa.

3.3. Chọn giống lúa phù hợp

Giống lúa sẽ góp phần quyết định năng suất cũng như chất lượng hạt gạo. Bà con cần lựa chọn giống lúa sạch bệnh, có năng suất và chất lượng cao. Bên cạnh đó, giống lúa cần đảm bảo là phải phù hợp với khí hậu và thổ nhưỡng tại địa phương, có khả năng chống chịu lại các loại sâu bệnh hại. 

Một số giống lúa cho năng suất cao, chống lại được các loại đạo ôn, bạc lá phù hợp với nhiều loại đất như ST5, Phúc Thái 168, Bắc Thơm 7, Gạo Một Bụi,…

3.4. Sạ lúa và cấy lúa

Từng vùng miền sẽ có cách sạ và cấy lúa khác nhau. Cụ thể: 

3.4.1. Miền Nam 

Số lượng giống lúa cần gieo: từ 120 – 180 kh/ha

Sử dụng phương pháp sạ theo hàng: mỗi hàng cách nhau 20cm. 

3.4.2. Miền Bắc

Số lượng giống gieo: 30kg/ha

Khoảng cách cấy lúa: 20cm x 12 – 14cm. Trung bình khoảng cách từ 35 đến 45 bụi/m2

4. Quy trình bón phân cho lúa

Bón lót, bón thúc đóng vai trò quan trọng trong kỹ thuật trồng lúa, nó quyết định trực tiếp đến sự sinh trưởng của cây.

4.1. Bón lót cho cây lúa

Cần bón lượng phân đầy đủ, cung cấp chất dinh dưỡng cho đất trước khi cấy và gieo sạ. Trong lúc làm đất thì bà con nên bón lót, sau khi đã bón và cày bừa xong thì phân cũng đã hòa vào đất. 

Liều lượng phân cho 1000m2 là phù hợp cho 3 sào (tính theo sào Bắc Bộ). 

  • Trung lượng Hải Dương (Nhật Bản) – Đặc biệt: 50-70kg/1000m2

4.2. Bón thúc cho cây lúa

Vào từng thời kỳ sinh trưởng của cây lúa sẽ tiến hành bón thúc để cung cấp lượng dinh dưỡng đầy đủ cho cây lúa, giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt nhất. 

Đợt 1: Bón phân khi đã cấy từ 7 đến 10 ngày

Lượng phân phù hợp cho 1000m2 ruộng:

  • NPK 22-6-6+9S+TE : 10-15kg/1000m2
  • NPK 25-25-5+TE: 8-12kg/1000m2
  • NPK 30-20-5: 8-12kg/1000m2

Đợt 2: Bón đợt 2 sau khi cấy từ 18 đến 25 ngày

Liều lượng phân bón phù hợp cho 1000m2 ruộng: 

  • NPK 20-20-15+50B: 9-13kg/1000m2
  • NPK 16-16-8+TE: 10-15kg/1000m2
  • NPK 22-20-15+TE: 9-13kg/1000m2

Bón phân đón đòng

Sau khi cấy từ 38 cho đến 45 ngày sau xạ, bà con cần quan sát màu sắc của lá lúa mà đánh giá xem cây lúa đang thừa hay thiếu đạm, để bổ sung kịp thời cho cây lúa. 

5. Quản lý lượng nước cho cây lúa

Ở từng giai đoạn trồng lúa thì cung cấp lượng nước khác nhau. Nếu không cung cấp đầy đủ nước trong quá trình thực hiện cách trồng lúa thì lúa sẽ thiếu nước và chết đi.

5.1. Giai đoạn cây con

Trước khi gieo sạ thì xả hết nước, giữ cho ruộng trong tình trạng khô trong khoảng 3 ngày sau khi gieo sạ. Đến ngày thứ 4 thì cho nước vào lánh mặt ruộng rồi rút cạn. Chỉ cần đảm bảo đủ độ ẩm trên mặt ruộng. 

5.2. Giai đoạn sinh trưởng

Giữ nước trong ruộng sao cho cách mặt từ 5 đến 7 cm. Lúc này là khoảng 30 đến 35 ngày sau khi cấy cần tháo nước cho đất nứt nẻ, để lá lúa chuyển sang màu hơi vàng rồi thêm nước mới vào. 

5.3. Giai đoạn lúa đã thực sự sinh trưởng

Cần giữ nước sao cho cách mặt ruộng từ 3 đến 5 cm. 

5.4. Giai đoạn lúa chín

Giữ nước cách mặt ruộng từ 2 đến 3 cm đến giai đoạn chín vàng khoảng từ 7 đến 10 ngày trước khi thu hoạch để rút cạn nước ruộng. 

Nước đóng vai trò thiết yếu trong kỹ thuật trồng lúa.

6. Phòng trừ bệnh hại cho ruộng lúa 


Phòng trừ bệnh trên cây lúa

Nên áp dụng các biện pháp để kiểm soát tình hình dịch bệnh trên ruộng đồng: duy trì, bảo vệ và thường xuyên vệ sinh đồng ruộng. Không nên bắt các loại sinh vật có lợi như nhện, ếch, bọ nước, ong vò vẽ,… Khi thấy trên đồng ruộng xuất hiện nhiều các loại thiên địch này thì hạn chế phun các loại thuốc trừ sâu ảnh hưởng đến môi trường và cây trồng

Nếu có thể hãy trồng cúc xung quanh bờ ruộng, tuân thủ nguyên tắc 4 đúng: đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng lúc, đúng cách. 

Gieo lúa đúng thời vụ, bón phân không mất cân bằng, khi cây đã bị bệnh thì ngừng cung cấp đạm. Khi cây đã dần phục hồi thì tiến hành bón phân NPK, chọn các loại giống kháng bệnh. 

7. Thu hoạch lúa

Khi lúa trỗ được 28 đến 32 ngày hoặc quan sát được 85 đến 90% số hạt trên bông đã chín thì bắt đầu thu hoạch. 

Chắc hẳn bạn đã nắm rõ quy trình kỹ thuật trồng lúa ở bài viết này. Hy vọng qua đây bà con sẽ chăm sóc tốt ruộng lúa và có một mùa vụ năng suất. Đừng quên liên hệ Nam Việt nếu gặp bất cứ vấn đề gì về cây trồng bà con nhé!

Quy trình và kỹ thuật xử lý ra hoa sầu riêng đúng thời vụ

Sầu riêng từ lâu đã được coi là loại trái cây “vua” đối với những người yêu thích nó. Những người làm vườn đã phải bỏ ra rất nhiều công sức mới có thể trồng thành công sầu riêng. Việc quản lý sự ra hoa và đậu trái luôn là vấn đề quan trọng nhất trong việc chăm sóc sầu riêng.

Vì vậy, làm thế nào bạn có thể trồng hoa vào thời điểm thích hợp để ra hoa và chất lượng quả tối đa? Bài viết dưới đây Nam Việt sẽ hướng dẫn bạn cách xử lý ra hoa sầu riêng đúng thời vụ!

Những nhân tố làm ảnh hưởng đến quá trình xử lý ra hoa sầu riêng

Giống, tuổi và môi trường ảnh hưởng đến việc xử lý ra hoa sầu riêng

Mùa ra hoa của sầu riêng được quyết định bởi giống cây trồng, điều kiện khí hậu và sức khỏe của cây. Các yếu tố trên ảnh hưởng đến quy trình xử lý ra hoa sầu riêng như sau:

– Giống cây: Mỗi giống cây trồng có khả năng ra hoa và đậu quả khác nhau. Ví dụ như giống khổ qua xanh có tỷ lệ ra hoa và đậu trái cao nhưng trọng lượng trái nhỏ, trong khi giống sầu riêng Monthong có tỷ lệ đậu trái thấp hơn nhưng trọng lượng trái lớn hơn.

– Tuổi cây: Nếu cây còn nhỏ (dưới 10 năm tuổi) hoặc già (trên 40 tuổi) khả năng cung cấp và nuôi trái sẽ giảm so với giai đoạn sung sức.

– Điều kiện sinh trưởng và chăm sóc: Nếu cây được chăm sóc, tưới đủ dinh dưỡng, sinh trưởng và phát triển tốt, không bị sâu bệnh sẽ cho nhiều quả có trọng lượng và chất lượng cao hơn.

Kỹ thuật xử lý ra hoa sầu riêng

Xiết nước

Để phân hóa mầm hoa, cây sầu riêng cần có thời gian khô hạn (nhiệt độ cao, ẩm độ thấp). Bà con phải chú ý đến điều kiện thời tiết, thoát nước để tránh tình trạng úng khi trời mưa làm cho mầm nằm im, không ra hoa được.

Xiết nước để sầu riêng ra hoa đúng vụ

Nếu vườn có rãnh, bà con nên rút cạn nước để đất nhanh khô giúp quá trình xử lý ra hoa sầu riêng mùa thuận diễn ra nhanh và thuận lợi hơn. Khi đất dưới gốc cây đã khô, nên phủ vải ni lông để tránh kết tủa làm hại bộ rễ.

Khoảng thời gian từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau là lúc cây sầu riêng bắt đầu phân hóa mầm hoa nếu cây chưa nở hoa hoặc ra hoa ít hơn thời điểm này, cần nhanh chóng dọn dẹp vườn để tạo nụ hoa mới. Đất khô nhanh chóng thì cây có thể ra hoa càng sớm càng tốt.

Việc xiết nước nên được thực hiện 7 – 14 ngày một lần, tùy thuộc vào độ ẩm của đất và tình trạng cây. Nếu cây sầu riêng đã héo mà chưa ra hoa thì tưới đẫm nước với lượng nước khoảng 1/3 lượng nước thông thường và nén nước cho đến khi hình thành chồi hoa. Tiếp tục tưới nước cho hoa khi hoa đã nở được khoảng 3 – 4 cm.

Tỉa hoa để cây có sản lượng tốt hơn

Sầu riêng thường ra hoa khá nhiều, số lượng hoa đôi khi nhiều hơn số lượng quả nhiều lần, làm cho cây không thể kết trái. Cắt tỉa hoa là xử lý sầu riêng ra hoa quan trọng để giảm bớt sự cạnh tranh dinh dưỡng gây ra sự phát triển không đồng đều của hoa.

Tỉa hoa để chất lượng quả tốt hơn

Nên tỉa hoa khi chùm hoa dài 3-5cm. Chỉ giữ lại những chùm hoa khỏe, có cuống to, các chùm hoa mọc cách xa nhau trên cành (cách nhau khoảng 20-25 cm). Tỉa các cụm hoa gần thân vì quả thường phát triển kém ở vị trí này. Loại bỏ hoa khỏi đầu cành cũng như để giảm thiểu gió giật và gây hại cho cây xung quanh.

Sau khi loại bỏ các chùm hoa, cắt các bông hoa trong cùng một cụm khi chúng đạt chiều dài 8 – 10 cm. Ưu tiên các loại hoa tròn, nhẹ, khỏe, không bị sâu bệnh, mỗi bó tối đa 10 bông. Hoa sầu riêng nên được cắt tỉa ngay khi chúng nở và không nên để lâu hơn một tháng. Thông thường hoa nở 2-3 lần trong năm, tùy theo ý người mà có thể duy trì hoặc kẹp hoa. Thông thường, hoa đợt 1 và đợt 3 được ngắt để đợt 2 cho quả chín tập trung cho thời điểm bán ra thị trường.

Thụ phấn

+ Thụ phấn thông qua thụ phấn chéo

Cách xử lý ra hoa sầu riêng bằng thụ phấn chéo là một phương pháp khác được sử dụng để tăng sản lượng sầu riêng. Có thể trồng các loại sầu riêng khác nhau trong cùng một vườn theo một tỷ lệ nhất định để thúc đẩy quá trình thụ phấn khi chúng ra hoa.

Thụ phấn cho hoa sầu riêng

+ Thụ phấn trợ lực

Vì phấn hoa sầu riêng kết tụ lại và chứa các hạt phấn dính nên rất khó phân tán hạt phấn theo gió. Có thể giúp cây thụ phấn bằng cách gom hoa vào buổi chiều, cho nhị của cây cần hạt phấn vào lọ, ủ đến khi nhụy nhả phấn thì quét phấn lên chổi để phấn dính lên cọ rồi quét lên bộ nhụy của cây muốn thụ phấn.

Nên thụ phấn từ 21 giờ đến 22 giờ đêm để quá trình thụ phấn thành công sẽ giúp hình thành trái tốt hơn, trái phát triển đầy đủ mà không bị lép do thụ phấn một phần. Với cách xử lý ra hoa cây sầu riêng này thì người trồng có thể tự quyết định được vị trí mà quả sầu riêng ra.

Bón phân trong suốt thời kỳ ra hoa

+ Bón phân đón hóa

Để cây sầu riêng đạt được thời kỳ dễ tạo mầm hoa nên bón phân từ 30 – 40 ngày trước khi cây ra hoa. Với cách xử lý sầu riêng ra hoa này, để tăng cường dinh dưỡng cho cây, nên bón một lượng phân vô cơ NPK. Bổ sung thêm phân gà hữu cơ để cung cấp chất đệm, duy trì độ pH của đất và cải thiện hiệu quả của phân vô cơ. Phân gà hữu cơ giúp cải thiện độ phì nhiêu của đất, tơi xốp đất, tạo môi trường sống thuận lợi cho vi khuẩn có ích phát triển, giúp đất giữ ẩm, tăng khả năng phục hồi của cây trồng. Trong thời gian này, bạn nên bón lót từ 3 – 5kg chất hữu cơ cho mỗi gốc.

+ Bón phân nuôi hoa

Trong thời kỳ ra hoa, bà con nên sử dụng phân bón lá Nitrat CanxiBo và NPK 20-27-12 kết hợp với các biện pháp phòng trừ sâu bệnh. Nếu đang ra hoa nhưng cây ra nhiều chồi mới thì tăng lượng NPK 20-20-15 theo hướng dẫn cho đến khi lá trưởng thành thì ngắt để tránh tình trạng cạnh tranh dinh dưỡng giữa lá và hoa.

Tưới hoa

Cây sầu riêng phải được tưới nước cách ngày trong suốt thời kỳ ra hoa để hoa phát triển và chất lượng hạt phấn được duy trì. Bà con hạn chế lượng nước tưới trước khi hoa nở 1 tuần, chỉ tưới khoảng 1/3 diện tích đã tưới trước đó. Vì hạt phấn sẽ bị hỏng nếu môi trường quá ẩm, quá trình thụ phấn và đậu trái sẽ bị ảnh hưởng. Tiếp tục tưới sau khi đậu trái, tăng dần lượng nước đến mức ổn định.